Phân tích Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

Nguyên tắc suy đoán vô tội ra đời nhằm tránh sự định kiến trước là từ phía cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng cho rằng người bị buộc tội là người có tội, dễ dẫn đến thái độ không thiện cảm đối với họ, không tôn trọng và bảo đảm các quyền luật định dành cho họ. Đặc biệt, thái độ định kiến như vậy sẽ dễ phát sinh các vi phạm pháp luật khi tiến hành các hoạt động tố tụng như việc áp dụng các biện pháp bức cung, nhục hình đối với người bị buộc tội, dẫn đến việc giải quyết vụ án không khách quan.

  1. KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI

Nguyên tắc suy đoán vô tội là một nguyên tắc quan trọng và tiến bộ của tố tụng hình sự. Nguyên tắc này đã tồn tại rất lâu trong pháp luật quốc tế (cụ thể là Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Đại hội đồng liên hợp quốc năm 1948). Hay pháp luật của một số quốc gia trên thế giới (Điều 9, tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cộng hoà Pháp năm 1789)

   Trong lịch sử lập pháp của nước ta, trước năm 2015 chưa có một văn bản pháp luật tố tụng hình sự nào chính thức ghi nhân nguyên tắc này mặc dù đã có những văn bản quy phạm thể hiện tư tưởng suy đoán vô tội như thông tư 2225 – HCTP ngày 24/10/1956 của Bộ tư pháp về chấn chỉnh việc thực hiện quyền bào chữa của bị ban đã hướng dẫn “Không nên có định kiến hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối xử như với người có tội; Bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để Toà án có thái độ hoàn toàn khách quan

Đến bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội đã ghi nhận sự tiến bộ vượt bậc trong lập pháp và phù hợp với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng của nước ta vào đời sống tư pháp hình sự quốc tế.

   Quy định tại BLTTHS 2015 không chỉ phản ánh đầy đủ tinh thần quy định tại khoản 1 điều 31 hiến pháp năm 2013 mà còn có sự phát triển hoàn thiện thêm làm cho nguyên tắc này có nội dung toàn diện, sâu sắc và đầy đủ hơn. Cụ thể, tại điều 13 BLTTHS quy định:

        “Điều 13. Suy đoán vô tội

   Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội

  1. PHÂN TÍCH NỘI DUNG NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định.

Việc điều tra, truy tố và xét xử một người phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Nội dung này nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó, thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện. Theo tinh thần đó, tại nhiều điều luật cụ thể, BLTTHS năm 2015 đã nhấn mạnh các yêu cầu nghiêm ngặt về trình tự, thủ tục, coi đó cũng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự. Điều 7 của BLTTHS xác định: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”.

Phải bảo đảm xác định và xem xét các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Yêu cầu này được quy định tại Điều 19 của BLTTHS Việt Nam hiện hành.

 2.2. Tội và lỗi của người bị buộc tội chỉ có thể được xác định bởi 1 bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.

  Yêu cầu này tạo thành hợp phần thứ hai của nguyên tăc suy đoán vô tội và kết hợp với hợp phần thứ nhất vừa nêu tạo nên một nội dung tổng thể của nguyên tắc suy đoán vô tội.

  Người bị buộc tội chỉ có thể bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trong pháp luật hình sự, thuật ngữ “người bị buộc tội” dùng để chỉ người đã thực hiện hành vi được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm, hành vi của người đó đã cấu thành tội phạm. Thuật ngữ “người bị buộc tội” chỉ một thực tế khách quan là một người đã thực hiện tội phạm chứ không phải tùy thuộc vào nhận định chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, thuật ngữ người “bị coi là có tội” khác với thuật ngữ “người bị buộc tội”.

  Theo quy định nói trên thì một người dù có bị tạm giữ, bị khởi tố bị can, bị tạm giam, đã bị xét xử sơ thẩm và bản án đó chưa có hiệu lực pháp luật thì vẫn chưa phải là người có tội. Họ mới chỉ là người bị tình nghi, người đã có hành vi phạm tội. Khái niệm có hành vi phạm tội và có tội là hai khái niệm khác nhau.

Bản án kết tội phải dựa trên những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, chứng minh bị cáo có tội. Không được dùng làm chứng cứ những người làm chứng và người tham gia tố tụng khác nêu ra nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó. Những yêu cầu trên đây được quy định từ điều 91 đến 94 và điều 98 BLTTHS.  

  1. Ý NGHĨA NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI

   Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa chính trị to lớn, và vì thế đã vượt ra ngoài phạm vi và nội dung pháp lý của nó nhằm ghi nhận địa vị của con người, tự do và dân chủ, ghi nhận mối liên hệ giữa tự do và trách nhiệm, dân chủ và pháp luật trong xã hội

Thứ nhất Mục đích của việc quy định nguyên tắc này là nhằm tránh sự định kiến trước là từ phía cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng cho rằng người bị buộc tội là người có tội, dễ dẫn đến thái độ không thiện cảm đối với họ, không tôn trọng và bảo đảm các quyền luật định dành cho họ. Đặc biệt, thái độ định kiến như vậy sẽ dễ phát sinh các vi phạm pháp luật khi tiến hành các hoạt động tố tụng như việc áp dụng các biện pháp bức cung, nhục hình đối với người bị buộc tội, dẫn đến việc giải quyết vụ án không khách quan.

Thứ hai, nguyên tắc này tạo cơ sở pháp lý để người bị buộc tội có điều kiện được bảo vệ và thực hiện một cách tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong tố tụng hình sự.

 Thứ ba, việc thực hiện nguyên tắc này là tiền đề bảo đảm cho những người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa của mình. Tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc suy đoán vô tội ở các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự như điều tra, truy tố, xét xử là một trong những điều kiện cho việc phát hiện nhanh chóng chính xác, xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Trên đây là tư vấn của Luật Thanh Mai về nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự. Nếu có thắc mắc cần được giải đáp quý khách vui lòng liên hệ email: luatthanhmai@gmail.com để được giải đáp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *